Chủ Nhật, 15 tháng 8, 2021

Phân tích các nhóm ngành trong trading

Đại đa số các cổ phiếu dẫn đầu thông thường đều thuộc về các nhóm nghành dẫn đầu. Theo William J.O'Neil có 37% biến động giá cổ phiếu phụ thuộc trực tiếp vào nhóm ngành của nó và 12% là do sức khỏe của toàn bộ nhóm ngành trên thị trường. Như vậy, gần 50% động lực biến động giá cổ phiếu đến từ sức mạnh của nhóm ngành tương ứng với nó.

Mỗi giai đoạn tăng trưởng của thị trường được dẫn dắt bởi những nhóm ngành khác nhau, việc xem xét nhóm ngành của một cổ phiếu trước khi mua rất quan trọng đến mức nào.

Trên toàn thị trường, có nhóm ngành này vượt trội hơn nhóm ngành khác và chi tiết hơn trong chính bản thân một nhóm ngành, có tiểu ngành này tốt hơn tiểu ngành ngành khác. Điều quan trọng là xác định được tiểu ngành nào vận hành tốt nhất sẽ tạo nên sự khác biệt giữa kết quả siêu hạng và kết quả tầm thường.

I - NHÓM NGÀNH PHÒNG THỦ

Nhóm ngành này cung cấp những sản phẩm cần thiết cho con người, ít tác động bởi chu kỳ kinh doanh, trong mọi hoàn cảnh kinh tế các công ty không dao động nhiều. Trader mua những cổ phiếu thuộc nhóm này an toàn hơn khi nền kinh tế rơi vào thời kỳ suy thoái. Cụ thể các nhóm ngành này là thực phẩm, dược phẩm, năng lượng (điện, nước, gas,...), bảo hiểm.

Điểm bất lợi cho trader đối với nhóm ngành này cũng từ đặc tính ít dao động của nó, không có lợi nhuận nhiều trong điều kiện nền kinh tế phát triển hơn.

Sau một giai đoạn tăng trưởng dài của thị trường, những người đọc bảng điện chứng khoán sẽ những cổ phiếu phòng ngự xuất hiện nhiều. Điều này báo hiệu các nguồn vốn chuyên nghiệp (tổ chức) đã tỏ ra e ngại và trader cũng nên thận trọng.

Nhóm ngành phòng ngự "cầm đèn báo hiệu" của thị trường. Nếu sau 1, 2 năm tăng trưởng mà trader thấy có sự gia tăng khối lượng mua vào những nhóm cổ phiếu như vàng, bạc, thuốc lá, thực phẩm, tạp phẩm và các sản phẩm tiện ích điện tử, điện thoại,...thì có thể báo hiệu thị trường sắp lên tới vùng đỉnh.

II - NHÓM NGÀNH CÓ TÍNH CHU KỲ

Ảnh hưởng mạnh bởi chu kỳ kinh doanh và biến động giá cả. Các công ty thuộc nhóm ngành này sản xuất những mặt hàng tiêu dùng lâu bền như nguyên vật liệu sản xuất (như thép, xi măng, nhôm, giấyhóa chất...), hàng tiêu dùng lâu bền (như ô tô, phương tiện giải trí, nhà cửa, dụng cụ gia đình,...) và trang thiết bị công nghiệp nặng. 

Nhóm ngành này sinh lợi cao trong nền kinh tế phát triển mạnh và bị tổn thất nặng khi nền kinh tế suy thoái.

III - NHÓM NGÀNH TĂNG TRƯỞNG

Một ngành/công nghiệp cũng như một sản phẩm đều phải trải qua bốn giai đoạn trong vòng đời của nó: thâm nhập, phát triển, mở rộng và suy giảm.

Một ngành/công nghiệp được coi là trong giai đoạn tăng trưởng nếu ngành/công nghiệp đó có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng của ngành kinh tế nói chung (chủ yếu về tỷ lệ sinh lợi) nhờ đổi mới công nghệ, giới thiệu sản phẩm mới, cải tiến hoặc sáng tạo trong sản xuất hoặc bán hàng, … và sở thích tiêu dùng thay đổi. Thời gian gần đây, thương mại điện tử, công nghệ, viễn thông, bất động sản khu công nghiệp đều trong giai đoạn tăng trưởng.

Đa số các công ty trong giai đoạn tăng trưởng đều giữ lại hầu như toàn bộ lợi nhuận để tái đầu tư phát triển quy mô kinh doanh, do đó cổ phiếu thuộc nhóm này thường không chia cổ tức hoặc nếu có thì chỉ ở mức rất thấp, nhưng bù lại mức tăng trưởng giá lại thật sự hấp dẫn.

Nhóm ngành công nghệ rất lệ thuộc vào nền kinh tế. Sự phát triển hay suy thoái của nền kinh tế sẽ làm sector này giao động thật mạnh. Ở các nền kinh tế to lớn hơn, người ta xài technology sector như là một cây thước để đo sự phát triển của kinh tế trên một lãnh vực nào đó. Có nghĩa là technology là một trong những cây thước dùng để tiên đoán sự phát triển và suy thoái của kinh tế trong tương lại. Lý do mà technology phụ thuộc nhiều vào kinh tế là vì các công ty chỉ bỏ tiền ra tân trang máy móc khi họ thấy lực cung cầu trong sản phẩm họ tăng, và muốn dành market share trên thị trường nên họ phải chi tiền. Và hiện tượng này chỉ xảy trong một nền kinh tế đang phát triển. 

Hãy lưu ý những biến động mới của nhóm ngành, hơn 60% cổ phiếu thành công lớn có dự phần trong các biến động của nhóm ngành.

Nhóm ngành đặc biệt

Cổ phiếu ở vị thế đặc biệt là cổ phiếu của những công ty có tiềm năng sinh lời khác thường do các tình huống bất thường (không tuần hoàn) đem lại. Ví dụ như một sự phục hồi mong đợi sau khi thay đổi ban quản lý điều hành công ty, sự phát minh về nguồn nguyên liệu thiên nhiên có giá trị thuộc tài sản của công ty, hoặc việc giới thiệu một sản phẩm hoàn toàn mới ra thị trường.

Những ngành có nhiều siêu cổ phiếu

Lịch sử cho thấy những cổ phiếu tăng tốt nhất có khuynh hướng thuộc một số ngành nhất định. Sau đây là những ngành thường có nhiều siêu cổ phiếu nhất:

- Ngành tiêu dùng / bán lẻ;

- Ngành công nghệ, máy tính, phần mềm;

- Ngành thuốc, y tế và công nghệ sinh học;

- Ngành giải trí.

Cổ phiếu ngành tài chính cảnh báo xu hướng gặp vấn đề nghiêm trọng

Cuộc khủng khoảng tài chính năm 2008 được phương tiện truyền thông cho là sự kiện ngẫu nhiên, bất ngờ theo vết "thiên nga đen". Nhưng sự thật là các cổ phiếu ngành tài chính đã giảm mạnh từ nhiều tháng trước, đây là dấu hiệu cảnh báo cho thấy có vấn đề nghiêm trọng đối với xu hướng thị trường sắp tới, trader nên tránh gặp phải thảm họa đổ vỡ của xu hướng giảm giá và cần phải bán sớm.

Thứ Tư, 11 tháng 8, 2021

Ghi chú các đoạn code AmiBroker

Ghi chú các đoạn code trong AmiBroker:

1/ Lấy dữ liệu Time Frame khác như Weekly, Monthly

TimeFrameSet (inWeekly);
RSIW = RSI(7);
TimeFrameRestore();

Khi đó RSIW là giá trị RSI trên Weekly Chart.

2/ Toán tử:

RSIW = RSI(7)==20; Khi đó: "==" là dấu = thông thường như trong excel;

RSIW = RSI(7)!=20; Khi đó: "!=" là dấu <> thông thường như trong excel (có nghĩa là khác với);

Toán tử so sánh:
< nhỏ hơn
> lớn hơn
<= nhỏ hơn hoặc bằng
>= lớn hơn hoặc bằng
== so sánh bằng

Toán tử logic
NOT không phải [điều kiện]
AND [điều kiện 1] và [điều kiện 2]
OR [điều kiện 1]

3/ Độ dốc lên/xuống indicator trong 1 khoảng thời gian:

SL1M = LINREGSLOPE(MA(C,200), 20)>0 là tính độ dốc lên của MA200 trong 20 bars.

4/ Khóa Đóng/Mở thay đổi loại mô tả đường giá:

TYOP = PARAMLIST("PRICE STYLE","CANDLE,O'NEIL,TOM,BAR",0);

SWITCH(TYOP)

{
CASE "CANDLE":
SETBARFILLCOLOR(IIF(C<REF(C,-1),COLORRED,COLORBRIGHTGREEN));
PLOT(C,"PRICE",IIF(C<REF(C,-1),COLORRED,COLORBRIGHTGREEN),STYLECANDLE,MASKPRICE);
BREAK;

CASE "O'NEIL":
PLOTOHLC(C,H,L,C,"",IIF(ROC(C,1)>0,8,IIF(ROC(C,1)<0,4,7)),STYLEBAR|STYLETHICK,NULL,NULL,0,1,4);
BREAK;

CASE "TOM":
PLOTOHLC(NULL,H,L,C,"",IIF(ROC(C,1)>0,8,IIF(ROC(C,1)<0,4,7)),STYLEBAR|STYLETHICK,NULL,NULL,0,1,4);
BREAK;

CASE "BAR":
PLOTOHLC(O,H,L,C,"",IIF(ROC(C,1)>0,8,IIF(ROC(C,1)<0,4,7)),STYLEBAR|STYLETHICK,NULL,NULL,0,1,4);
BREAK;
}

5/ Thay đổi vẽ đường MA trên khung thời gian khác nhau:

IF(INTERVAL()==INWEEKLY) PLOT(M010,"",38,STYLEDASHED);
IF(INTERVAL()==INWEEKLY) PLOT(M040,"",28,STYLELINE);
IF(INTERVAL()==INDAILY)      PLOT(M050,"",38,STYLEDASHED);
IF(INTERVAL()==INDAILY)      PLOT(M200,"",28,STYLELINE);

6/ Tính ATR:

ATR = MAX(H,REF(C,-1))-MIN(L,REF(C,-1)); // Calculate ATR

7/ LowestSince / HighestSince

Ví dụ: HighestSince(Cross(MACD(),0),C,1) cho ra kết quả Close cao nhất trong khoảng (period) tính từ thời điểm xảy ra Cross(MACD(),0) cho đến thời điểm hiện tại.

8/ Hàm Sum

Sum(C<MAC21H,5)<3: Cho ra kết quả là số lần giá đóng cửa nằm dưới MA21 nhỏ hơn 3 (tức là 2 trở xuống) trong chu kỳ 5 bar.

Thứ Tư, 7 tháng 4, 2021

Biểu đồ tuần (Weekly Chart)

Khi đọc các bài viết hay các cuốn sách về các nhà giao dịch thành công chúng ta đều thấy đa phần trong số họ đều thích sử dụng các khung thời gian lớn để phân tích thị trường. Và tất nhiên không phải tự dưng mà các trader thành công đều quan sát biểu đồ tuần. Và dưới đây là 4 nguyên do chính:

Biểu đồ tuần giảm bớt các thông tin nhiễu trên biểu đồ hằng ngày
 
Thật vậy. Khi nhìn vào biểu đồ tuần chúng ta sẽ thấy có những xu hướng kéo dài từ thời gian rất lâu, nó được tính bằng năm hoặc vài năm. Và các tín hiệu được tạo ra trên biểu đồ tuần có độ chính xác cao hơn rất nhiều biểu đồ ngày.
 
Hầu hết trader chuyên nghiệp chú ý vào biểu đồ tuần chính là để giảm bớt được những tín hiệu nhiễu trên biểu đồ ngày và có thể phân tích thị trường hoặc tìm được điểm vào lệnh chính xác hơn. 
 
Biểu đồ tuần cho thấy những khối lượng nổi bật 
 
Đây cũng là yếu tố mà các biểu đồ ngắn hạn không cung cấp được. Nến tuần là nên được hình thành trong một tuần giao dịch, và nếu như có sự đợt biến hoặc tăng vọt hoặc giảm mạnh về khối lượng thì những thông tin đó đều rất đáng giá với các anh em trader.
 
Khối lượng là yếu tố có thể xác nhận cho một cú phá vỡ hoặc sự vững chắc của một xu hướng hoặc cho một tín hiệu đảo chiều xác thực. Vậy nên đây là thông tin mà trader chuyên nghiệp sử dụng trong các phân tích và chiến lược giao dịch của họ.
 
Biểu đồ tuần giúp trader chuyên nghiệp nhìn được các mô hình biểu đồ và xu hướng rõ ràng hơn
 
Có những mô hình ở khung thời gian thấp hơn nhìn rất lớn, nhưng khi lên biểu đồ tuần bạn sẽ thấy những mô hình đó nhỏ hơn nhưng rõ ràng hơn. Những mô hình biểu đồ là một trong những kỹ thuật mà cách trader sẽ áp dụng trong các giao dịch của họ. Vậy nên bạn có thể kiểm tra những mô hình biểu đồ này ở khung thời gian lớn hơn như một sự xác nhận và gia tăng sự tin cậy của mô hình.
 
Biểu đồ tuần còn giúp trader chuyên nghiệp xác định được xu hướng rõ ràng hơn.
 
Khi ở khung thời gian thấp bạn có thể sẽ thấy rằng các xu hướng không có tính bền vững và dễ bị phá vỡ hơn thì điều này sẽ được cải thiện nếu bạn sử dụng biểu đồ tuần. Các xu hướng trên khung thời gian tuần kéo dài lâu hơn, bền vững hơn và rõ ràng hơn.
 
Biểu đồ tuần cung cấp cho trader các manh mối tiềm năng về sự tiếp diễn của một xu hướng. Các manh mối mà biểu đồ tuần cung cấp rất đáng tin cậy, đồng thời xu hướng trên biểu đồ tuần khá bền vững nên các manh mối trên biểu đồ tuần sẽ cho trader những đánh giá khá vững chắc về xu hướng như khối lượng, động lượng, hỗ trợ, kháng cự,...Những manh mối này giúp trader có thêm sự nhận định chắc chắn hơn về sự tiếp diễn của xu hướng, thậm chí là sự đảo chiều của xu hướng.
 
Đây chính là 4 lý do chính mà trader chuyên nghiệp thường sử dụng biểu đồ tuần để phân tích và tìm các manh mối để giao dịch.

(Nguồn: TraderViet)